Pulau Bidong với cảnh “mồ xiêu mả lạc”

Trường trình: Quảng Yên Nguyễn Công Bằng
Hình ảnh: Tập thể VBTD10

Không kể số lượng người di tản vào thời điểm trước và sau biến cố 30/4/1975, tài liệu của Cao Uỷ ghi nhận có 849.228 người bỏ nước vượt thoát chế độ Cộng sản đã đến các trại tỵ nạn ở 9 nước trong vùng Đông Nam Á. Không ai biết chính xác bao nhiêu ngàn người đã bỏ mình trên đường tìm tự do xuyên qua biển Đông Việt Nam hay các vùng rừng núi Campuchia. Sự hy sinh của những thuyền nhân xấu số đang bị phai nhòa theo thời gian nhưng chắc chắn lịch sử đã ghi nhận mất mát to lớn đó như là một minh chứng hùng hồn nhất cho giá trị của hai chữ TỰ DO ở cuối thế kỷ 20.

Trong hơn ba thập niên qua, nhiều cuốn sách, đoạn phim, câu chuyện đã thể hiện phần nào bao thảm cảnh xảy ra đối với người vượt biển, vượt biên… song lịch sử nhân loại sẽ không thể nào ghi lại hết được những khổ đau, mất mát kinh khiếp đã diễn ra trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Chỉ riêng tại Mã Lai Á và Nam Dương, hàng ngàn xác người bất hạnh bỏ mình khi tàu đến bờ biển và bị giông gió đánh chìm, hay bị tử vong khi tàu bị kéo ra biển khơi. Tại Mã Lai Á, vì lý do phong tục và tôn giáo, xác của các thuyền nhân xấu số đã được vớt lên và mai táng chung trong các nghĩa trang người Hoa ở địa phương. Trong đó có rất nhiều ngôi mộ tập thể.

(Từ trái) Mộ tập thể chôn 139 thuyền nhân (MT065), và mộ tập thể chôn 137 thuyền nhân (MT065)

Hai ngôi mộ tập thể lớn nhất ở tiểu bang Terengganu (Mã Lai Á) chôn tổng cộng 276 xác thuyền nhân. Một đặc điểm cần ghi nhận là mộ tập thể từ vài ba người lên đến 139 người (mộ tập thể Cherang Ruku, tiểu bang Kelantan) chỉ có thể tìm thấy tại Mã Lai Á. Tại Phi Luật Tân, Nam Dương và Thái Lan, người ta không tìm thấy dấu vết của bất cứ một ngôi mộ tập thể nào; song điều đó không có nghĩa là không có nhiều người chết trong cùng một vụ đắm tàu.

Hình ảnh một số trong hàng ngàn ngôi mộ đang bị hư hoại

Trên một số hòn đảo từng là bến bờ tự do như đảo Bidong hay quần đảo Anambas... hàng ngàn người bất hạnh khác đã gửi xương cốt vĩnh viễn. Do không có người chăm sóc hàng năm, các nghĩa trang trở nên hoang tàn, nhiều tấm bia đơn sơ đã bị đổ nát, phần lớn các ngôi mộ đấp đất sơ sài đã bị mưa gió soi mòn sau nhiều năm không được chăm sóc.

Trước cảnh tượng đau lòng này, kể từ năm 2005, Văn khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN) cố gắng vận động sự yểm trợ của đồng hương khắp nơi để trùng tu mộ phần thuyền nhân trong các nghĩa trang trên đất liền tại Malaysia.

Một số các nghĩa trang đã được VKTNVN trùng tu trong đất liền Malaysia.

Sau 6 năm với nhiều cố gắng vượt bực và sự đóng góp của đồng bào hải ngoại, chương trình đã trùng tu, lập bia cho hơn 500 mộ trên đất liền (nơi mai táng tổng cộng hơn 1.000 thuyền nhân xấu số). Chương trình cũng đã tìm kiếm được hàng ngàn ngôi mộ khác ở Nam Dương, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, v.v...

Theo dự trù, trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2015, VKTNVN sẽ trùng tu lớn cho ngôi mộ tập thể 46 người ở Balai Bachok, và gây quỹ trùng tu nghĩa trang vùng Anambas (khoảng 300 mộ), ở đảo Bidong (khoảng 270 mộ), đảo Galang (503 mộ) và khu vực trại tỵ nạn Bataan ở Phi Luật Tân (khoảng 300 mộ). Năm 2015 sẽ trùng tu những mộ phần mới tìm thấy ở Thailand, Hong Kong hoặc những nơi chưa hoàn  tất kịp trước đó.

Trong chuyến "Về Bến Tự Do 10" được tổ chức từ ngày 12/5 - 2/6/2012, gần 40 cựu thuyền nhân đã có dịp trở lại đảo Galang và Bidong. Mục đích của chuyến đi là tạo điều kiện cho các thuyền nhân thăm viếng nơi chốn đặt những bước chân tự do đầu tiên sau hành trình vượt thoát chế độ CSVN; đồng thời nghiên cứu phương thức trùng tu ngôi mộ các thuyền nhân bất hạnh đã gửi xương cốt lại vĩnh viễn trên các hòn đảo hoang vắng.

Theo sự tổng hợp thông tin từ hồ sơ của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, Pulau Bidong là chốn tạm dung của hơn 242 ngàn người tỵ nạn từ năm 1978-1991; trong đó có 433 thuyền nhân đã từ trần và phần lớn được chôn tại đảo. Các ngôi mộ được tập trung ở bốn nghĩa trang ở Khu C, E, F và G.

Khác với mộ phần các thuyền nhân được chôn ở nghĩa trang Galang ở Nam Dương (là nơi được chăm sóc thường xuyên bởi chính quyền bản xứ) mộ phần thuyền nhân ở các nghĩa trang trên đảo Bidong đang đối diện với nguy cơ bị hư hoại nghiêm trọng (vì cho đến nay Bidong vẫn là một đảo không có người định cư).

Hiện tình các nghĩa trang ở Bidong vào tháng 5/2012 được ghi nhận như sau:

       - Nghĩa trang Khu C: Gồm 7 ngôi mộ đắp xi-măng, đã bị nứt nẻ nhiều và hư hoại nặng.

       - Nghĩa trang Khu G: Vừa được tìm thấy trên đồi (tại khu bồn nước khu G) gồm 86 mộ đắp bằng đất với đá tảng chất vòng chung quanh mỗi mộ.

       - Nghĩa trang Khu E: Gồm 15 mộ (do Liên đoàn Phật tử Khuôn Việt lập) được xây sơ sài bằng xi-măng, mai táng ở vùng đất trũng thấp, đang bị hư hoại nặng.

       - Nghĩa trang Khu F: Là nghĩa trang lớn nhất, gồm 159 mộ (theo nội dung ghi trên tấm bia bằng xi-măng), hầu hết chỉ có một tấm bia mộ đúc bằng xi măng và phần lớn đang trong tình trạng hư hoại nặng nề.

Nhìn chung, đại đa số các ngôi mộ đều đang trong tình trạng bị bể nứt, các bia bị nứt, gãy, đổ... toàn bộ mộ phần luôn bị cây rừng và cỏ dại mọc lấn tràn lên các mộ.

Nhu cầu trước mắt cho việc trùng tu ở nghĩa trang Galang là sửa chữa những ngôi mộ đã bị hư hoại, kể cả bia mộ. Do phần lớn mộ được xây bằng xi-măng, việc quét vôi lại toàn bộ để xóa bớt đi dấu vết tàn phá của thời gian cũng là một việc cần thực hiện - nếu như ngân quỹ cho phép. Hy vọng là các thuyền nhân từng ở Galang sẽ gây quỹ hoặc ủng hộ VKTNVN trùng tu khu nghĩa trang này.

Riêng ở đảo Bidong, nhu cầu lớn nhất là lập bia mộ (theo mẫu ở các nghĩa trang đã được VKTNVN trùng tu) để ghi lại thông tin chính xác của từng ngôi mộ; và tìm cách ngăn chận cây rừng, cỏ dại lấn phá các ngôi mộ trong lâu dài. Với hoàn cảnh không thể có điều kiện chăm sóc thường xuyên cho các nghĩa trang ở Bidong, việc trùng tu và có phương cách bảo vệ sự hư hoại bởi thiên nhiên là một thách thức lớn. Dự án này đòi hỏi một ngân sách hàng trăm ngàn mỹ kim, và sự đóng góp công sức của nhiều người. Với con số gần 250 ngàn người vốn đã từng tạm dung ở đảo này, việc góp sức chăm sóc cho hơn 200 ngôi mộ sẽ không phải là một trở ngại nếu như chương trình này nhận được sự quan tâm, ủng hộ của 10% cựu thuyền nhân Bidong.

Về cơ sở vật chất, tất cả đang bị hư hoại nặng nề và có lẽ không tồn tại được thêm bao lâu nữa nếu như không có được một kế hoạch trùng tu đúng mức.

Hiện nay, những khu cư trú ngày nào của 242 ngàn thuyền nhân hầu như đã bị hư hoại hoàn toàn và tất cả đều đã trở thành khu rừng với dầy đặc cây cỏ như chưa từng có người sinh sống qua ở đó.

Di tích còn nhìn thấy được là ở Khu Đồi Tôn Giáo. Cánh Buồm Tự Do là công trình còn đứng vững tương đối tốt nhất.

Tượng Ông Già Bidong, Nhà thờ Công giáo, Chùa Từ Bi, Văn phòng Cao Ủy ở Bidong (5/2012)

Tượng Ông Già Bidong, nơi tôn thờ cầu nguyện của hàng trăm ngàn người mỗi khi đi phỏng vấn hay hồ sơ định cư bị khó khăn, hiện đang sụp đổ. Mảnh lưng rớt ra. Tượng Ông Già và Cô Cháu Gái gẫy làm hai và rớt xuống vì khung sắt đã bị mục nát. Hai cơ sở đang trên đà sập đổ là Nhà Thờ Công Giáo và Chùa Từ Bi. Nhà thờ Tin Lành và Cao Đài đã bị sập và mất dấu hoàn toàn. Các căn nhà của Cao Ủy LHQ chỉ còn lại khung sườn và những mái che đã bị mất nhiều phần. Những ai đã từng một lần trở lại thăm viếng các nghĩa trang thuyền nhân đều không khỏi chạnh lòng và cảm thấy rõ ràng món nợ tình nghĩa chưa thanh thỏa xong với những người bạn đồng hành, đồng cảnh ngày nào.

Công trình mới nhất được xây dựng ở Bidong là cây cầu Jetty, do chính phủ Mã Lai xây dựng với ngân sách 1 triệu Mã kim (RM).

***

May mắn thoát khỏi chế độ độc tài Cộng sản chỉ là bước đầu. Đến được bến bờ tự do là may mắn kế tiếp. Có được đi định cư ở nước thứ ba hay không là một may mắn khác. Và trong quá trình đó, hàng trăm ngàn người bất hạnh đã bỏ mình trên đường vượt thoát hoặc chết tức tưởi ngay trước khi được có cái diễm phúc đặt chân lên bờ bến tự do.

Con số trên một triệu người tiếp tục liều chết tìm tự do trong suốt hai thập niên đã đánh thức lương tâm nhân loại, và trở thành yếu tố thúc đẩy sự thành hình các chương trình định cư nhân đạo dành cho những người có thân nhân ở nước ngoài (ODP), hay đã từng bị tù đày, ngược đãi (H.O.).

Lời tuyên bố của ông Trần Đông: "Quyết không để cho một ngôi mộ nào sẽ chịu cảnh mồ siêu mả lạc..." chứa đựng đầy ắp tâm huyết đáng trân trọng song cũng hứa hẹn nhiều thử thách. Với con số hàng ngàn ngôi mộ cần sửa chữa, hàng ngàn tấm bia cần được thành hình, hàng chục nghĩa trang cần được khai hoang, ngăn chận cây rừng, cỏ dại lấn che... thực tế chắc chắn không đơn giản chỉ đòi hỏi một quyết tâm của người chủ xướng. Chương trình trùng tu hàng ngàn mộ phần thuyền nhân còn lại ở Mã Lai Á, Nam Dương, Phi Luật Tân, Hồng Kông, Thái Lan... cần sự đóng góp nhiệt tình của nhiều nguời để có được một ngân sách khả thi cho dự án.

Một vài bài viết tả thực về hiện tình các nghĩa trang hoang tàn chắc chắn không thể nói lên hết được nhu cầu trùng tu cần có. Những lời kêu gọi dù có hay cách mấy cũng không thể thành hình được ngay ngân quỹ phải có cho dự án... Nguyện ước ý nghĩa này chỉ có thể trở thành hiện thực khi nhận được sự quan tâm, ủng hộ của nhiều người có lòng. Hy vọng sao sự đóng góp của nhiều người sẽ tạo đủ ngân quỹ để những thuyền nhân bất hạnh sớm thoát khỏi cảnh "mồ xiêu mả lạc".

Người viết thành khẩn cầu nguyện hương hồn những đồng bào xấu số đang gửi nắm xương tàn tại các nghĩa trang hoang vu hãy phò trợ cho nỗ lực của Văn khố Thuyền Nhân Việt Nam nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của những người hảo tâm ở khắp nơi, đặc biệt là những người đã từng là Thuyền Nhân hay là thân nhân của những nguời đã được may mắn định cư ở nước thứ ba bằng con đường vượt biển.

Xin cảm ơn ông Trần Đông cùng các đồng hương nhiệt tâm đã khởi xướng các chương trình về lại chốn xưa và tạo điều kiện cho những người hảo tâm có cơ hội chia sẻ phần nào với những người bạn vượt biển bất hạnh.

Kính mời đồng bào xem thêm thông tin ở mạng: www.vktnvn.com và ủng hộ cho các chương trình gây quỹ của Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam.

Chân thành chia sẻ.

Tường trình tại Kulua Lumpur ngày 2/6/2012

Quảng Yên Nguyễn Công Bằng

Thuyền nhân Pulau Bidong (78-79)

 

VDF' Activity Slideshow

Các Chị trong BTC Buổi Gây Quỹ "Cho Tuổi Thơ Niềm Hy Vọng" tổ chức ngày 11/01/2015 tại hội trường Đài VAN-TV 55.2 ở Houston (Texas)nhằm tạo ngân quỹ bảo trợ các chương trình dạy chữ cho hơn 500 trẻ em gia đình VN nghèo ở Cambodia.

The Interfaith Religious Leaders appease and ditribute gifts to Child Cancer Patients in Saigon. VDF was one of major contributors. Các chức sắc Tôn giáo phát quà cho các bệnh nhi ung bướu ở Chùa Liên Trì - Hình 1 Kể từ năm 2015, Câu lạc bộ Hoa-Mai (tiền thân của ViDan Foundation) đã phối hợp với HT Thích Không Tánh và hội Vietnam Compassion (ở Pháp) để phát quà (mỗi năm 2-3 lần) cho các trẻ em bị bệnh ung bướu, và TPB-VNCH.

The Interfaith Religious Leaders appease and ditribute gifts to Child Cancer Patients in Saigon. VDF was one of the major contributors. Các chức sắc Tôn giáo phát quà cho các bệnh nhi ung bướu ở Chùa Liên Trì - Hình 2 Kể từ năm 2015, Câu lạc bộ Hoa-Mai (tiền thân của ViDan Foundation) đã phối hợp với HT Thích Không Tánh và hội Vietnam Compassion (ở Pháp) để phát quà (mỗi năm 2-3 lần) cho các trẻ em bị bệnh ung bướu, và TPB-VNCH.

Some members of the Fundraising Team at VAN-TV in Houston (Texas) on January 11, 2015 to support educational projects for needy children in Cambodia. Các chị trong Ban Tổ Chức trình diện cử tọa tham dự buổi gây quỹ "Cho Tuổi Thơ Niềm Hy Vọng" Kỳ 2.

Crossing Tonle Sap to visit Vietnamese floating villages in Pursat province (Cambodia) Cảnh đoàn MIRO và ông Nguyễn Công Bằng đi ghe máy vượt Biển Hồ thăm các làng nổi ở tỉnh Pursat

Cảnh học trò trường Samaki tan học về nhà bè

Christine Quỳnh và bà Bích Ngọc góp lời chia sẻ

Christine Quỳnh và Ô.B. Vũ Ban & Bích Ngọc VAN-TV

Cư sĩ Trần Hiến, Christine Quỳnh và Ô.B. Vũ Ban, Bích Ngọc yểm trợ quỹ bảo trợ giáo dục cho trẻ Việt ở Cambodia

Dù đang mang bệnh hiểm nghèo song các em cũng vui khi có quà

Trẻ đùa giởn trên cồn cát và dòng nước ô nhiễm, dơ bẩn khi không còn không gian nào khác hơn.

HT Thích Huyền Việt - người bảo trợ tinh thần cho ViDan Foundation trong nhiều năm qua.

HT Thích Huyền Việt góp lời kêu gọi đồng hương yểm trợ

Lớp Việt Ngữ ở xóm Bãi Cát Neak Loeung

Lớp Việt Ngữ ở xóm Cầu Đá

Một bé gái chơi đùa và cuối xuống uống nước dơ bẩn ở bờ Biển Hồ - một cảnh trạng bình thường ở đây khi hoàn toàn không có một nguồn nước sạch nào khác.

Category: Bài vở

Nguyễn Công Bằng (VDF)

YoungVietnameseInCambodia_0.pngTrẻ con Việt Nam rất yêu đời, trong hoàn cảnh khổ nào cũng cười được. Cảm nghĩ này đã theo tôi trong nhiều năm cho đến khi tôi nhận thức được rằng: Sự vui tươi hồn nhiên đó có được vì cuộc đời của chúng không có gì khác để so sánh thế nào là xấu đẹp, dở hay… Đáng nói là phần lớn những đứa trẻ sinh ra ở Cambodia không có giấy khai sinh. Và vì vậy, tương lai của chúng rất có thể sẽ tương tự như cái hiện tại khốn khổ của cha mẹ chúng – cũng là những người không có giấy căn cước ở xứ này.

Chỉ kể từ năm 1975 đến nay, đã có hơn hai thế hệ trẻ Việt sinh ra ở Cambodia. Theo thông tin từ mạng CIA World Factbookthì số người gốc Việt ở Cambodia hiện nay vào khoảng 5%, tức gần 800 ngàn người. Và với sĩ số này, ít nhất có khoảng 100 ngàn trẻ đang ở tuổi đến trường. Nhưng thực tế ghi nhận được cho thấy là vì nhiều hoàn cảnh khác nhau, số trẻ may mắn được đến trường chiếm một tỉ lệ rất nhỏ. Phần lớn phải phụ giúp cha mẹ mưu sinh từ khi chưa được 10 tuổi.

Tôi đã gặp những đứa trẻ phụ giúp cha mẹ đi thu lượm vật liệu phế thải như chai nhựa, giấy bồi, kim khí vụn… một “nghề” có tên là “ép chai” ở Cambodia.

YoungScrapCollectors.png

Những đứa trẻ làm “nghề ép chai” ở Cambodia (Ảnh: Đ.M.C. & VDF)

Nhìn những đứa trẻ chỉ cao hơn cái xe ba-gác một cái đầu, vật lộn với sức nặng để lôi chiếc xe, hay vác trên vai cái bao nylon to đùng đi lùng sục các ngỏ hẻm, thùng rác, quán ăn… để tìm chai nhựa, ai thấy lòng cũng phải se lại. Nhưng lạ làm sao khi các em vẫn tươi cười chứ không có một giọt nước mắt nào rơi xuống bên cạnh những dòng mồ hôi nhỏ bé. Nếu hỏi ra sẽ biết các em cười vì xe đã thu được khá nhiều món. Vì những “món” rác phế liệu này đồng nghĩa với chén gạo, bát cơm của các em.

Đó là những đứa trẻ thuộc các gia đình sống bằng cái “nghề” mà người bản xứ không chuộng làm. Còn những đứa bé sống với cha mẹ trên những chiếc bè, ghe, nhà nổi… thì sao?

LifeInTonleSap_01.png

Không gian sinh hoạt của gia đình 7 người (Ảnh: VDF)

Không gian sinh hoạt hàng ngày của nhiều gia đình 5-7 người không lớn hơn 20 mét vuông. Có những cái ghe nhỏ đến nỗi mọi người phải di chuyển tới lui bằng cách… bò lom khom.

Những đứa trẻ có cha mẹ làm “nghề cá” thường phải chung sức phụ giúp gia đình bằng sức lực bé nhỏ của chúng. Ai có dịp chứng kiến cảnh những mái đầu xanh chỉ vào khoảng 9, 10 tuổi phải bơi xuồng, lặn nước để giăng câu, kéo lưới… chắc không thể tránh khỏi cảm giác bàng hoàng. Và đó cũng là tại sao đứa nào cũng đen thui, đen thít không khác gì người bản xứ.

YoungVietnameseInCambodia_02.png

Những đứa trẻ ở tuổi 9, 10 phải lam lũ làm việc phụ giúp gia đình mưu sinh (Ảnh: VDF)

Đối với những cảnh khổ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc và phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày, “child labor” không là một vấn đề. Thậm chí, chắc chắn không người nào biết được từ ngữ này là gì. Nếu được ai cắt nghĩa, những người dân khốn khổ này chỉ có thể lắc đầu vì không hiểu nổi tại sao lại có định nghĩa như vậy. Ở những nơi này, người ta quan niệm đơn giản đến đau lòng rằng: Dốt không chết, đói mới chết!

Theo lời một nhà sư vốn cũng là một Bác sĩ Y khoa, hầu hết trẻ Việt ở Cambodia đều bị suy dinh dưỡng, và hay mắc bịnh đường ruột.

TenYearOldChildren.png

Những đứa trẻ Việt 10+ tuổi bệnh hoạn, còi cọc ở Cambodia (Ảnh:VDF)

Đối diện với những đứa trẻ chậm lớn vì thiếu ăn, bệnh hoạn vì thiếu thuốc… khó ai cầm được nỗi bùi ngùi. Những thiếu nhi “vô tổ quốc” này không có nguồn thực phẩm nào khác ngoài nồi cơm đạm bạc của gia đình, và khi đến tuổi đi học không thể vào trường công lập vì không có khai sinh (ngoại trừ đóng “lệ phí” 10 mỹ kim mỗi năm để được vào trường, và được học tối đa đến lớp 3). Đáng lo hơn nữa là khi có bệnh thì không được hưởng chế độ y tế miễn phí của trẻ bản xứ.

Tôi cũng đã chứng kiến cảnh những đứa trẻ hồn nhiên chơi đùa cạnh cồn cát dơ bẩn cạnh bờ Biển Hồ, và cúi người xuống uống nước một cách tự nhiên – một thứ nước đục ngầu xen lẫn rong rêu, rác rưởi quyện lấy nhau của bờ hồ ở mùa nắng hạn.

YoungVietnameseInCambodia_01.png

Trẻ chơi đùa hồn nhiên trên cồn cát dơ bẩn bên bờ Biển Hồ. (Ảnh: VDF)

Đây là thứ nước mà ngay cả những người bạn bản xứ đi cùng chuyến công tác với tôi cũng tránh lau mặt, rửa tay dù trời nóng bức và người đổ mồ hôi nhuễ nhoại.

Tôi cũng đã gặp những đứa trẻ ham học, cảm ơn “Thầy” rối rít khi được cho đi học miễn phí. Trước đó, các em phải đóng “học phí” là 200 riels (5 xu USD) cho mỗi ngày học -- một khoản hết sức nhỏ bé mà không ít gia đình cũng không kham nổi, và đành để con dốt chữ.

Một trong ba bé gái mồ côi cha, lấy tấm carton lượm được làm bảng học chữ. (Ảnh: VDF)

Trong những năm qua, thỉnh thoảng có một nỗ lực trợ giúp giáo dục do người từ hải ngoại về Cambodia tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, vì nhiều khó khăn, phức tạp khác nhau số chương trình thiện nguyện này không kéo dài được lâu, và số còn lại rất hiếm hoi.

Khi tìm hiểu, chúng tôi nghe nói đã từng có lớp Việt ngữ tư ở đây đó nhưng Thầy, Cô thiếu thốn quá, dạy được một thời gian thì phải bỏ đi tìm kế sinh nhai. Có một số em thiếu niên thiếu nữ hiếu học kiên trì tìm lớp tìm thầy, ráng học thêm chữ nào hay chữ nấy. Vì vậy, sẽ không có gì kỳ lạ khi trong lớp 1 có cả những em trên 12 tuổi.

ViDan Foundation (VDF) đang bước vào năm hoạt động thứ ba ở Cambodia. Chương trình tổ chức dạy chữ cho các em có chiều hướng phát triển tốt, từ con số 45 em năm 2013 tăng lên hơn 500 em vào thời điểm tháng 4/2015. Đây là một sự may mắn nhưng cũng là một nỗi lo.

Các lớp dạy chữ sẽ không thể tiếp tục nếu như ngân quỹ bảo trợ không tìm được đủ, hay điều kiện thực hiện chương trình ở xứ này gặp phải bất trắc…

Anh chị em VDF hồi hộp. Các bạn trẻ hội MIRO, tổ chức thiện nguyện đang phối hợp, yểm trợ cho VDF hồi hộp. Và gia đình các em cũng luôn hồi hộp, không biết rằng ở lục cá nguyệt tới Hội có đủ tiền để tiếp tục bảo trợ giáo dục cho các em hay không.

Thôi thì cũng… cười cho vui như các em vậy! Phần còn lại, trông chờ vào phúc phần mà đám trẻ này sẽ nhận được từ những tấm lòng hảo tâm ở khắp nơi. Và cao hơn nữa, mong được Trời Phật tiếp tục phò trợ cho.

Viết với bao nỗi niềm vì những đám trẻ thơ bất hạnh ở Cambodia.

Nguyễn Công Bằng(VDF)

Tháng 4/2015

 


THÔNG TIN LIÊN LẠC & YỂM TRỢ:

Mạng toàn cầu của Hiệp Hội Vì Dân: www.hoamai.us & www.vidan.us

Điện thoại Văn phòng: 1-713-849-3511   |  Anh Trinh: 1-713-391-9843

Thư từ, chi phiếu: Vidan Foundation, P.O. Box 842064, Houston, TX 77284-2064

eMail đóng góp qua PayPal: paypal@vidan.us

 

Copyright (c) The ViDan Foundation, Inc 2014. All rights reserved.
Designed by olwebdesign.com